zz

Xuất khẩu gỗ sang EU có thể đạt 1 tỷ USD vào năm 2020Theo ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, khi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) có hiệu lực sẽ tạo ra sự bứt phá thực sự cho xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang thị trường này, với mức dự báo đạt khoảng 1 tỷ USD vào năm 2020.

xuat khau go

                                                  Các sản phẩm đồ nội thất gỗ.

Ông Nguyễn Tôn Quyền cho biết, nhiều năm nay, thương mại gỗ giữa Việt Nam - EU chiếm khoảng 12 - 15% tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ, trung bình mỗi năm khoảng 650 - 700 triệu USD.

Hiệp định EVFTA có hiệu lực sẽ tác động rất tích cực tới ngành Gỗ Việt Nam và thị trường xuất khẩu được rộng mở.

Đến nay, xuất khẩu gỗ vào EU chủ yếu vào năm nước Đức, Pháp, Anh, Tây Ban Nha và Italy, nhưng với Hiệp định EVFTA, thị trường sẽ được nâng lên.
Bởi, thực tế, nhu cầu tiêu dùng sản phẩm gỗ của EU mỗi năm khoảng 80 - 85 tỷ USD. Nhu cầu đó hiện đang lớn hơn rất nhiều so với kim ngạch xuất khẩu gỗ của Việt Nam sang EU.

Hiện nay, công nghệ chế biến gỗ của EU là công nghệ tiến bộ nhất khi tiết kiệm được năng lượng, tiết kiệm được nhiên liệu và trình độ quản trị kinh doanh rất tốt, làm tăng năng suất lên khoảng 15 - 20%.

Với Hiệp định EVFTA, ngoài vấn đề thuế suất về 0%, các doanh nghiệp có thể dễ dàng hơn trong quá trình mua máy móc, thiết bị, học hỏi công nghệ chế biến gỗ cũng như trình độ quản trị doanh nghiệp từ EU.

Theo ông Nguyễn Tôn Quyền, thị trường EU khá khó tính với những chỉ số kỹ thuật hàng hóa khắt khe, hầu hết theo tiêu chuẩn Euro 3. Trong khi đó, hầu hết doanh nghiệp xuất khẩu gỗ miền Bắc còn chưa biết nhiều về tiêu chuẩn này.

Bởi, các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu gỗ miền Bắc xuất khẩu sang EU khá ít, chỉ khoảng 5 - 7 doanh nghiệp. Nhưng hàng trăm doanh nghiệp ở khu vực miền Nam từ Đà Nẵng trở vào đã khá quen thuộc và nắm vững về Hiệp định EVFTA.

Để tận dụng tốt cơ hội thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa vào EU, doanh nghiệp cần không ngừng học hỏi, cập nhật thông tin, tự hoàn thiện mình hơn nữa.

Xuất nhập khẩu 2017 đạt kỷ lục 400 tỉ USD. Số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan cho thấy tính đến hết tháng 11.2017, tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam đã đạt 385,77 tỉ USD.


Trong đó, xuất khẩu đạt 194,47 tỉ USD, tăng 21,5% và nhập khẩu là 191,47 tỉ USD, tăng 21,2%. Chỉ còn hơn 14 tỉ USD nữa là kim ngạch xuất nhập khẩu cán mốc 400 tỉ USD. Tính trung bình trong 11 tháng của năm 2017, mỗi tháng đạt 35 tỉ USD.
Sau 1 thập niên, kể từ lần đầu tiên kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước đạt 100 tỉ USD vào năm 2007, đến nay kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đã tăng gấp 4 lần. Đặc biệt, chỉ mất 2 năm để đưa kim ngạch xuất nhập khẩu từ mức 300 tỉ USD (năm 2015) lên mốc 400 tỉ USD.
Theo WTO, xếp hạng xuất nhập khẩu của Việt Nam năm 2016 so với các nền kinh tế khác trên thế giới đã có bước nhảy vọt. Chỉ trong vòng 10 năm từ 2006 - 2016 đã tăng 24 bậc đối với xuất khẩu và 19 bậc với nhập khẩu, vươn lên ngang bằng với Malaysia, Thái Lan, bỏ xa Philippines và Indonesia, trong khi các nước ASEAN khác không có nhiều thay đổi về xếp hạng.
Tính đến hết tháng 11, cả nước đã có 26/45 nhóm hàng xuất khẩu chính đạt kim ngạch trên 1 tỉ USD, trong đó có tới 5 nhóm hàng đạt kim ngạch trên 10 tỉ USD. Đặc biệt, chỉ có 3 nhóm hàng xuất khẩu có kim ngạch giảm là cà phê, hạt tiêu, nhóm hàng đá quý, kim loại quý và sản phẩm.
Nhập khẩu hàng hóa cả nước cũng có tới 31/53 nhóm hàng chính đạt kim ngạch trên 1 tỉ USD, trong đó có 3 nhóm hàng đạt kim ngạch trên 10 tỉ USD.
Đến thời điểm hiện nay, xuất nhập khẩu hàng hóa của nước ta đã vượt xa những chỉ tiêu kế hoạch đặt ra hồi đầu năm là xuất khẩu tăng 6% và nhập siêu bằng 3,5% tổng trị giá xuất khẩu.
Theo Thanh niên
Kiến nghị logistics thành ngành kinh tế mũi nhọnSáng 1/11, các đại biểu Quốc hội tiếp tục đóng góp nhiều ý kiến về phát triển ngành dịch vụ logistic; phát triển khoa học công nghệ; đưa rau, quả, hoa trở thành nhóm hàng hóa xuất khẩu chủ lực...


Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIV: Kiến nghị logistics thành ngành kinh tế mũi nhọn. Ảnh: Thanh Liêm - TTXVN

Sáng 1/11, các đại biểu Quốc hội tiếp tục đóng góp nhiều ý kiến về phát triển ngành dịch vụ logistic; phát triển khoa học công nghệ; đưa rau, quả, hoa trở thành nhóm hàng hóa xuất khẩu chủ lực; các vấn đề văn hóa – xã hội như bảo vệ trẻ em trước tình trạng xâm hại tình dục đang gây bức xúc xã hội hiện nay, đạo đức văn hóa xã hội xuống cấp…

Cần quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội

Đề cập đến một vấn đề gây nhiều bức xúc trong xã hội hiện nay là tình trạng xâm hại trẻ em, đại biểu Nguyễn Thị Thủy (Bắc Kạn) cho rằng chưa khi nào vấn đề xâm hại tình dục trẻ em lại phức tạp như thời gian vừa qua.
Theo số liệu thống kê, mỗi năm cả nước có trên 1.300 trẻ em bị xâm hại tình dục, với tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng.
Số trẻ em bị xâm hại ở độ tuổi mẫu giáo ngày càng có xu hướng gia tăng; nhiều vụ xâm hại trẻ sau đó giết trẻ hoặc dẫn tới trẻ tự sát... tính chất rất nghiêm trọng nhưng có dấu hiệu bị bỏ lọt, rất khó khăn trong quá trình chứng minh tội phạm. 

Theo đại biểu, gia đình vốn là hàng rào đầu tiên bảo vệ các em, nhưng từ thực tiễn các vụ việc cho thấy, chúng ta vẫn chủ yếu quan tâm theo cách truyền thống, mà chưa quan tâm nhiều đến việc trang bị cho trẻ các kiến thức cần thiết để trẻ tự bảo vệ mình trước các nguy cơ xâm hại, nhất là ở khu vực miền núi, nông thôn.
Sau khi vụ việc xảy ra, gia đình không báo với cơ quan có thẩm quyền, cam chịu bỏ qua, chấp nhận đau đớn về tinh thần.
Có trường hợp gia đình quyết tâm đưa vụ việc qua ánh sáng nhưng do thiếu hiểu biết hoặc do mất bình tĩnh dẫn đến việc thiếu chứng cứ có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình chứng minh tội phạm và không đưa được kẻ phạm tội ra trước pháp luật.
Nhiều gia đình đã chọn giải pháp chuyển nhà, chuyển trường để hạn chế bớt tác động tới trẻ, còn kẻ phạm tội vẫn bình thản sống ngoài xã hội và tiếp tục là nguy cơ với các trẻ em khác. 

Đại biểu Thủy nhìn nhận, công tác giáo dục giới tính trong nhà trường còn hạn chế, chưa cập nhật với tình hình. Sách giáo khoa có rất ít nội dung này, đồng thời không ít giáo viên còn tâm lý e ngại cho nên chỉ truyền đạt vấn đề một cách chung nhất. 

“Đã đến lúc ngành giáo dục nước ta cần quan tâm hơn nữa cho nội dung này. Giáo dục giới tính, phòng ngừa xâm hại phải trở thành những bài học bổ ích và có tính bắt buộc ở quy mô quốc gia chứ không phải mạnh trường nào trường đó làm”.
Đại biểu Thủy kiến nghị thời gian tới sửa Luật Giám định tư pháp theo hướng cho phép gia đình nạn nhân được tự trưng cầu giám định ngay sau khi sự việc xâm hại xảy ra để lưu giữ chứng cứ, phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử. 

Liên quan đến vấn đề văn hóa, đại biểu Nguyễn Thanh Quang (Đà Nẵng) nhìn nhận, văn hóa là gốc, là nền tảng đạo đức của con người, đạo đức xã hội.
Đại biểu Quốc hội Thành phố Đà Nẵng Nguyễn Thanh Quang phát biểu ý kiến. Ảnh: Doãn Tấn - TTXVN
Thực trạng đạo đức xã hội, đạo đức con người đang có biểu hiện xuống cấp, hiện tượng giết người để cướp của, con giết cha, vợ giết chồng, người dân khi bất đồng thì dùng dao đâm chém lẫn nhau làm cho xã hội bất an, người dân nhiều lo lắng. 

Tuy nhiên, báo cáo của Chính phủ đề cập đến vấn đề văn hóa chưa thỏa đáng, chưa thể hiện được những điểm còn tồn tại, những gì cần phải tập trung giải quyết, qua đó đạt được mục tiêu xây dựng nền văn hóa, con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc nhân văn, dân chủ, để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, là sức mạnh nội sinh quan trọng, bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
Đại biểu đề nghị Chính phủ quan tâm đầu tư giải quyết những vấn đề liên quan đến văn hóa và trong báo cáo của Chính phủ cần báo cáo rõ những nội dung này.

Đưa quả, rau, hoa trở thành nhóm hàng sản phẩm chủ lực

Từ thực tế đi thăm vùng đồng bào dân tộc các tỉnh phía Bắc chịu ảnh hưởng của thiên tai, lũ quét vừa qua, đặt câu hỏi “đến bao giờ đồng bào khu vực này có đủ khả năng tự xây dựng lại nhà cửa, trường học như cũ?”, đại biểu Nguyễn Thiện Nhân (Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng điều này sẽ hết sức khó khăn vì theo thống kê năm 2016, thu nhập bình quân đầu người của vùng miền núi phía Bắc chỉ là 2,03 triệu đồng/tháng, số tiền này chỉ đủ chi tiêu hàng tháng, không thể có tích lũy.
Trong khi đó, ở các thành thị, thu nhập bình quân đầu người một tháng là 4,4 triệu đồng.
Thu nhập của bà con vùng núi phía Bắc chỉ bằng 46% của nhân dân ở vùng thành thị và thực tế thì gần 40% dân số ở thành thị thu nhập 4,4 triệu đồng/người, còn ở vùng nông thôn với khoảng 60% dân số, thu nhập chỉ khoảng 2 - 2,4 triệu đồng/người. 

“Tình trạng này sẽ còn kéo dài... Vấn đề đặt ra là làm thế nào để tăng thu nhập cho người dân nông thôn nói chung, đặc biệt ở vùng miền núi, khi mà quá trình công nghiệp hóa không thể diễn ra nhanh ở miền núi và nông thôn, cho nên việc năng suất chênh lệch, thu nhập chênh lệch còn kéo dài”, đại biểu đặt vấn đề. 

Theo đại biểu, năm 2016, xuất khẩu dầu thô cả nước đạt 2,4 tỷ USD, xuất khẩu gạo đạt 2,15 tỷ USD, cà phê đạt 3,3 tỷ USD, thủy sản 7 tỷ USD và xuất khẩu quả, rau, hoa là 2,45 tỷ USD. Như vậy lần đầu tiên năm 2016, xuất khẩu quả, rau và hoa đã lớn hơn xuất khẩu dầu thô.
Nhìn lại lịch sử, năm 2005 xuất khẩu dầu thô là 7,3 tỷ USD, gấp 31 lần xuất khẩu rau quả lúc đó là 235 triệu USD.
Năm 2016, xuất khẩu dầu thô chỉ còn bằng 0,98 lần rau, quả, hoa.

Hàng loạt con số được đại biểu phân tích cho thấy tốc độ tăng trưởng các mặt hàng chính như dầu thô 5 năm giảm 900 triệu USD, cafe 5 năm không tăng giá trị xuất khẩu, thủy sản tăng bình quân là 5%/năm, riêng quả, rau, hoa tăng bình quân 30%/năm, dự báo đến năm 2022 giá trị xuất khẩu của lĩnh vực này là 9 - 10 tỷ USD, hơn cả giá trị xuất khẩu dầu thô lúc cao nhất.
Trong nhóm 12 sản phẩm chủ lực xuất khẩu, nông nghiệp đã có lúa gạo, cá da trơn, các sản phẩm từ nấm, cà phê, tôm nước lợ và sâm, còn các mặt hàng quả, rau, hoa chưa được coi là sản phẩm chủ lực quốc gia. Trong khi đó, 5 năm qua, các mặt hàng này đã chứng tỏ sự tăng trưởng vượt bậc và tiềm năng.
Từ các số liệu trên, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh đưa ra những gợi ý cho việc giảm nghèo, tăng thu nhập của vùng miền núi. 

Đại biểu Nguyễn Thiện Nhân đề xuất “Chúng tôi suy nghĩ là Chính phủ xem xét để đưa nhóm hàng quả, rau, hoa trở thành nhóm hàng sản phẩm chủ lực của đất nước chúng ta”. 

Cho rằng những sản phẩm này không cần cánh đồng lớn, từng khu vườn của bà con đã có thể trồng được, đại biểu kiến nghị đối với miền núi, đồng bằng, cần lựa chọn loại quả, rau, hoa phù hợp mỗi địa phương trở thành một sản phẩm xuất khẩu chủ lực, góp phần giảm nghèo ở vùng nông thôn.
Cùng với đưa vào chương trình sản phẩm quốc gia, đại biểu cho rằng phát triển các hợp tác xã nông thôn để trồng quả, rau, hoa xuất khẩu là một hướng khả thi góp phần giảm nghèo tương đối hiệu quả, bởi thị trường thế giới tiêu thụ rất lớn.

Dịch vụ logistics – ngành siêu lợi nhuận nhưng bị bỏ ngỏ

Dẫn thông tin từ Bộ Công Thương và Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam: Tổng giá trị thị trường logistics Việt Nam tương đương từ 21-25% GDP quốc gia, lớn hơn rất nhiều so với ngành đóng góp nhiều nhất vào GDP quốc gia là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, đại biểu Nguyễn Quốc Bình (Hà Nội) cho rằng dịch vụ logistics là một ngành kinh tế quan trọng, rất có điều kiện phát triển ở Việt Nam, là giải pháp trực tiếp góp phần tăng trưởng nhanh, bền vững GDP và tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. 

“Nhưng thực tế, ngành logistics đóng góp rất ít, chỉ khoảng 2-3% vào GDP. Từ nhiều năm qua, ở nước ta, logistics được xem là một ngành siêu lợi nhuận nhưng bị bỏ ngỏ, do khoảng 80% thị phần trong tay các doanh nghiệp logistics nước ngoài”, theo đại biểu. 

Phân tích của đại biểu Bình cho thấy, logistics là tất cả các dịch vụ tác động lên hàng hóa, từ khâu sản xuất đến khâu tiêu dùng trên phạm vi toàn cầu và hàng hóa được sản xuất từ nhiều ngành khác nhau nên chất lượng và hiệu quả cung cấp dịch vụ logistics ảnh hưởng trực tiếp lên sức cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế.
Các nước tiên tiến đã chú trọng đầu tư vào logistics theo hướng giảm thiểu chi phí nhằm nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Ở các nước này, chi phí logistics chỉ trong khoảng từ 7 đến 15% của GDP, trong khi đó ở nước ta, chi phí logistics ở mức rất cao, từ 21 – 25% GDP. 

“Đây là yếu tố trực tiếp cản trở tốc độ phát triển của nền kinh tế nước ta. Vì thế, việc tập trung nâng cao hiệu quả dịch vụ và giảm chi phí logistics có ý nghĩa to lớn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, đại biểu Bình nói. 

Theo đại biểu, nước ta ở vị trí trung tâm của khu vực châu Á - Thái Bình Dương về vận tải biển và hàng không, nơi có những luồng hàng hóa chủ lực bậc nhất thế giới đi qua, hàng năm có trên 65 nghìn lượt tàu thuyền đi qua Biển Đông, chuyên chở khoảng 50% lượng dầu mỏ và hàng hóa xuất nhập khẩu của thế giới.
Bên cạnh đó, trong số 4 hành lang kinh tế của tiểu vùng Mekong, Việt Nam là đầu mối của ba hành lang hướng ra Biển Đông.
Đồng thời nước ta sở hữu những vị trí có thể xây dựng cảng biển nước sâu và sân bay trung chuyển quốc tế lý tưởng, cho thấy tiềm năng, lợi thế phát triển rõ rệt về logistics, có nhiều điều kiện để trở thành trung tâm logistics của khu vực và quốc tế. 

Trong khi đó, năng lực vận tải biển nước ta rất yếu, nên thị phần dịch vụ logistics lớn nhất là vận tải biển chiếm 60% cơ cấu của logistics rơi vào tay các hãng tàu biển quốc tế.
Dịch vụ cảng chiếm 20% kết cấu logistics, thì những cảng đầu mối có lượng hàng thông quan lớn nhất của nước ta như cảng Cát Lái lại nằm sâu trong nội địa nên chỉ những tàu có trọng tải nhỏ dưới 25.000 tấn vào được.
Vì thế, 90% lượng hàng xuất nhập khẩu của nước ta phải trung chuyển qua một vài cảng lớn trong khu vực. Vì lý do này, các chủ hàng Việt Nam phải chịu chi phí ở cả cảng nội địa, cảng trung chuyển cộng thêm phí vận tải trung chuyển quốc tế. 

“Tính sơ bộ, chỉ nắm hai khoản: Vận tải viễn dương và trung chuyển hàng hóa, các công ty nước ngoài đã chi phối gần 80% thị phần logistics Việt Nam, phần nhỏ bé còn lại 20% chia cho 1.300 doanh nghiệp logistics nội địa, trong đó có đến 72% là những doanh nghiệp nhỏ, năng lực tài chính nhân sự và trình độ quản lý thấp, thực hiện các dịch vụ đơn giản nhất vận tải nội địa, cho thuê kho bãi, bốc xếp, thủ tục hành chính… Do vậy, đa phần doanh nghiệp logistics Việt Nam mới chỉ đảm nhận vai trò vệ tinh cho các công ty logistics nước ngoài”, đại biểu tính toán. 

Đánh giá logistics có thể trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, trọng điểm ở nước ta, chất lượng dịch vụ logistics thấp và chi phí cao là do chúng ta chưa phát huy đúng những tiềm năng, lợi thế mạnh sẵn có, chứ không phải quá khó khăn, không làm được, đại biểu Bình kiến nghị Chính phủ thay đổi quan niệm về quản lý và phát triển logistics.
Chính phủ cần quản lý tập trung về logistics, có thể là thông qua Ủy ban quốc gia về logistics như một số quốc gia đã làm.
Cần quan niệm logistics là bài toán vĩ mô chứ không phải là nhiệm vụ riêng của từng địa phương bởi thực tế đang thiếu bàn tay điều hành trực tiếp ở cấp vĩ mô của Chính phủ nên các hoạt động logistics trở nên cục bộ, không hiệu quả.
Một ví dụ cụ thể là tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có cảng nước sâu Cái Mép chỉ khai thác được 19% công suất vì thiếu chân hàng, trong khi cảng Cát Lái của Thành phố Hồ Chí Minh không phải là cảng nước sâu, nằm sâu trong nội địa lại luôn quá tải. 

Tiếp đến, cần gấp rút xác định vị trí xây dựng cảng trực tuyến quốc gia, đón tàu đi thẳng đến thị trường quốc tế, không qua trung chuyển.
Trước mắt khi chưa có cảng trực tuyến quốc gia, cần chú trọng khai thác cụm cảng nước sâu đã xây dựng nhưng đang thừa công suất vì thiếu chân hàng thông qua sự điều tiết của Chính phủ.
Đồng thời, cần nhanh chóng xây dựng, phát triển đội tàu viễn dương, giành lại thị phần vận tải biển đang nằm trong tay các công ty nước ngoài; xây dựng nhanh trục đường sắt hai chiều Bắc - Nam làm xương sống cho hệ thống logistics nội địa…/.


Doanh nghiệp Việt cần làm gì khi xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ?. Theo ông Nestor Scherbey, Tổng Giám đốc CTRMS Việt Nam - Cố vấn cấp cao, Liên minh thuận lợi hóa thương mại toàn cầu, nếu doanh nghiệp Việt Nam muốn xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ cần liên hệ với các chuyên gia uy tín, nhà cung ứng dịch vụ kiểm định và chứng nhận để được hỗ trợ về các quy định và quy trình an toàn thực phẩm.
Thông tin trên được chia sẻ tại Hội thảo quốc tế “Những yêu cầu mới về tiêu chuẩn để nông sản, thực phẩm Việt hội nhập” vừa diễn ra ngày 23/5.
An toàn thực phẩm luôn là tiêu chí hàng đầu

Chia sẻ về những tiêu chuẩn hàng hóa tại thị trường Mỹ, ông Herb Cochran - Cố vấn Amcham, Cố vấn chương trình thuận lợi hóa thương mại của Hoa Kỳ tại Việt Nam cho biết, Luật hiện đại hóa an toàn thực phẩm của Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đang biến hệ thống an toàn thực phẩm của quốc gia thành một hệ thống dựa trên việc ngăn ngừa ngộ độc thực phẩm. 
Cũng theo ông Herb Cochran, Luật hiện đại hóa an toàn thực phẩm tại Mỹ yêu cầu khá khắt khe. Theo đó, các cơ sở sản xuất thực phẩm được yêu cầu phải thực hiện một kế hoạch kiểm soát bằng văn bản. Trong đó có những đánh giá về mối nguy có thể ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm, xác định các bước ngăn ngừa hoặc kiểm soát nào sẽ được thực hiện, để giảm thiểu đáng kể hoặc ngăn ngừa các mối nguy hiểm. 




Vấn đề không tuân thủ quy định về an toàn thực phẩm là hàng rào lớn nhất cho các doanh nghiệp Việt Nam. Ảnh minh họa
Ông Herb Cochran cũng cho biết thêm, việc kiểm soát phòng ngừa bắt buộc đối với cơ sở sản xuất thực phẩm được Mỹ yêu cầu còn có việc xác định các cơ sở giám sát kiểm soát để đảm bảo chúng có hiệu quả. Các tiêu chuẩn đó phải xem xét các mối nguy xảy ra tự nhiên, cũng như những mối nguy có thể xảy ra một cách vô ý hoặc có ý.

“Các báo chỉ ra rõ ràng việc tăng cường an toàn và nhất quán của chuỗi cung ứng toàn cầu là ưu tiên hàng đầu Mỹ”, ông Herb Cochran chia sẻ.

Đưa ra lời khuyên cho các doanh nghiệp cung ứng vào thị trường Mỹ, ông Herb Cochran cho rằng, cần tăng cường khả năng hệ thống an toàn thực phẩm của các nước khác, bao gồm cả hệ thống các quy định, là vấn đề cần được xem xét nghiêm túc để tránh được các vấn đề tại tại chuỗi cung ứng khi đến thị trường Mỹ.

Riêng đối với thị trường Việt Nam, ông Herb Cochran cũng nhận định, vấn đề không tuân thủ quy định về an toàn thực phẩm là hàng rào lớn nhất cho các doanh nghiệp Việt Nam. Vì vậy, các doanh nghiệp cần tập huấn và cấp chứng chỉ bởi các cơ quan kiểm định tại Việt Nam.

Ông Nestor Scherbey, Tổng Giám đốc CTRMS Việt Nam – Cố vấn cấp cao, Liên minh thuận lợi hóa thương mại toàn cầu cũng cho rằng, nếu muốn xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ, tất cả các doanh nghiệp phải trao đổi và làm việc tích cực với người mua và nhập khẩu tại nước này, nhằm hiểu các yêu cầu và tuân thủ chúng.

Theo ông Nestor Scherbey, nếu các công ty chưa làm việc chặt chẽ với nhà mua hàng hoặc nhà nhập khẩu của mình, để biết và hiểu về những thay đổi liên quan đến yêu cầu về an toàn thực phẩm nhằm đưa ra những hành động thích hợp cần thiết, đừng cố gắng xuất khẩu các sản phẩm thực phẩm qua Mỹ, cho tới khi doanh nghiệp và các đối tác thương mại của bạn hoàn thành những việc trên.

“Nếu bạn chưa tuân thủ yêu cầu thì có rủi ro cao là nhà mua hàng, nhà nhập khẩu của bạn hoặc người đại diện sẽ gặp rắc rối nghiêm trọng với Hải quan. Cho nên, công ty của bạn sẽ có nguy cơ bị phạt rất nhiều tiền, bao gồm cả việc cấm xuất khẩu sang thị trường Mỹ”, ông Nestor Scherbey nhấn mạnh.

Trước những quy định này, ông Nestor Scherbey cho rằng, các doanh nghiệp hãy liên hệ với chuyên gia uy tín và các nhà cung ứng dịch vụ kiểm định, chứng nhận bên thứ ba để có được hỗ trợ về quy định, cũng như quy trình an toàn thực phẩm của Mỹ đối với sản phẩm thực phẩm của công ty xuất khẩu.

Nhu cầu thuốc bảo vệ thực vật tại Việt Nam là rất lớn

Theo thông tin tại Hội thảo, mỗi năm, Việt Nam nhập khẩu trung bình khoảng 100 nghìn tấn thuốc bảo vệ thực vật dạng nguyên liệu và thực phẩm. Đây mới chỉ là “phần nổi của tảng băng chìm”. 

Một con số đáng báo động là, mặc dù diện tích trồng trọt cả nước chỉ tăng 57%, nhưng lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật sử dụng tăng tới 517%. Việt Nam nhập khẩu 100 nghìn tấn thuốc bảo vệ thực vật (trong đó 90% là Trung Quốc bao gồm nhiều hoạt chất độc, thời gian tồn dư dài, thế giới đã cấm sử dụng).

Theo thống kê, chỉ trong 2 tháng đầu năm 2017, Việt Nam đã nhập khẩu 129 triệu USD thuốc bảo vệ thực vật, tăng 20% so với cùng kỳ 2016.
Tính ra Việt Nam chi 616 tỷ đồng/tháng cho việc nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật từ Trung Quốc (mỗi ngày dành ra 20,5 tỷ đồng cho việc này).

Theo VnMedia

Yến Nhi

Chính thức vận hành cảng biển quốc tế Vissai Nghệ An. Sáng 21/10 tại xã Nghi Thiết (Nghi Lộc), UBND tỉnh và Tập đoàn Xi măng The Vissai đã tiến hành lễ công bố quyết định cảng biển quốc tế Vissai Nghệ An và mở cầu cảng, chính thức đưa cảng biển quốc tế này đi vào hoạt động. Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ đã về dự và bấm nút vận hành.
Bấm nút chính thức vận hành cảng biển quốc tế Vissai Nghệ An
Cảng biển quốc tế Vissai Nghệ An hiện mới thực hiện được giai đoạn 1, xây dựng cầu cảng Vissai số 1 dài 2.000m, có khả năng tiếp nhận tàu 70.000 tấn vào bốc xếp hàng hóa. Trước mắt, cảng phục vụ cho việc vận chuyển Clinker và xi măng của Công ty CP Xi măng Sông Lam đến các cảng nội địa và xuất khẩu. Giai đoạn 2 khi hoàn thành sẽ biến nơi đây thành cảng tổng hợp, trở thành cảng biển quốc tế đa dụng. Với độ sâu tự nhiên 9m, cầu cảng Vissai có thể phục vụ cho tàu trên 100.000 tấn cập cảng.
Việc xây dựng cảng biển quốc tế Vissai Nghệ An có ý nghĩa hết sức quan trọng không chỉ với Nghệ An mà còn với khu vực, là đầu mối giao thông quan trọng, phục vụ vận chuyển, trao đổi hàng hóa của Nghệ An với các tỉnh trong cả nước và các nước trên thế giới bằng đường biển. Việc xây dựng cảng biển quốc tế Vissai Nghệ An, cùng với việc xây dựng tuyến đường kết nối Đông Tây qua cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy (Thanh Chương) hứa hẹn sẽ là cửa ngõ hướng ra biển của khu vực Đông Bắc Lào và Đông Bắc Thái Lan.
Ngay trong ngày chính thức đi vào hoạt động, cảng biển quốc tế Vissai Nghệ An đã đón tàu KM VANCOUVER mang quốc kỳ Canada có trọng tải gần 70.000 tấn vào bốc xếp hàng hóa.
Theo LDNA
Hải Phòng 'cáo buộc' Thép Hòa Phát chống đối không nộp phí cảng biển. Vấn đề thu phí cảng biển, UBND TP. Hải Phòng cho rằng một số doanh nghiệp đã chống đối không nộp phí, như doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Thép Hòa Phát, một số doanh nghiệp cảng biển chưa đồng thuận, ủng hộ chưa cao.
Hải Phòng 'cáo buộc' doanh nghiệp chống đối
Theo Cổng thông tin điện tử UBND TP. Hải Phòng, báo cáo về kết quả thực hiện cam kết và cam kết bổ sung tại Kỳ họp 5 HĐND thành phố khóa 15 (ngày 11-13/7/2017), Luật Phí và lệ phí được ban hành ngày 25/11/2015 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2017 cho phép các địa phương có cảng biển được thu phí sử dụng công trình, kết cấu hạ tầng trong khu vực cửa khẩu cảng biển.

Hải Phòng là địa phương đầu tiên trong cả nước triển khai thu loại phí này, đồng thời giao cho UBND quận Hải An là đơn vị chủ trì thu phí.
Chủ tịch UBND TP. Hải Phòng cho biết, "đây là việc mới và Hải Phòng là địa phương đi tiên phong, nên thời gian đầu có một số diễn biến phức tạp", đó là: một số doanh nghiệp đã chống đối không nộp phí, như các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Thép Hòa Phát, một số doanh nghiệp cảng biển chưa đồng thuận và ủng hộ chưa cao...
Ngoài ra lãnh đạo Hải Phòng cho rằng, các hiệp hội doanh nghiệp trong và ngoài nước liên tục gửi kiến nghị tới Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương và cho rằng: TP. Hải Phòng thu phí không đúng thẩm quyền và không đúng trình tự thủ tục; TP.  Hải Phòng thu phí chồng phí và có mức thu phí cao...
Trước tình hình trên, sau khi kiểm tra thực tế, lãnh đạo Hải Phòng cho rằng, các Bộ như Tài chính, Tư pháp, Giao thông Vận tải, Công thương…đều thống nhất và báo cáo Chính phủ: thành phố Hải Phòng thu phí đúng thẩm quyền và đúng trình tự theo quy định.
Lãnh đạo Hải Phòng thông tin rằng, kết quả 6 tháng đầu năm, tổng kinh phí đã thu đạt 721 tỷ đồng (gần bằng 50% dự toán giao. Khoản thu này sẽ tăng ngân sách cho TP cả năm 2017 sẽ là trên 1.500 tỷ đồng.
Doanh nghiệp tiếp tục kêu cứu lên Phó Thủ tướng
Trước đó, ngày 16/5/2017, Văn phòng Chính phủ có văn bản số 5036/VPCP-KTTH thông báo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ về vấn đề phí hạ tầng cửa khẩu cảng biển Hải Phòng, yêu cầu UBND Thành phố Hải Phòng xem xét các kiến nghị của doanh nghiệp, báo cáo HĐND TP trong kì họp sớm nhất để điều chỉnh mức thu phí theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí và phù hợp khả năng chi trả của doanh nghiệp. 
Tuy nhiên, theo báo cáo của Chủ tịch UBND TP. Hải Phòng nói trên thì lãnh đạo Hải Phòng vẫn tiếp tục khẳng định "thành phố Hải Phòng thu phí đúng thẩm quyền và đúng trình tự theo quy định".
Báo cáo kết quả thực hiện tại Kỳ họp 5 HĐND thành phố khóa 15, lãnh đạo Hải Phòng cũng cho rằng, ngay từ giữa năm 2016, UBND TP đã chỉ đạo Sở Tài chính xây dựng Đề án thu phí và tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của nhân dân, các hiệp hội, các doanh nghiệp và trình Hội đồng nhân dân thành phố thông qua, tại kỳ họp thứ 3.
Tuy vậy, theo kiến nghị mới nhất ngày 4/7 của liên các hiệp hội về việc tiếp tục xin chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ để tổ chức đối thoại công - tư, xem xét điều chỉnh mức thu phí cửa khẩu cảng biển Hải Phòng, "UBND Thành phố Hải Phòng chưa tổ chức gặp gỡ, trao đổi, gửi tài liệu hay đối thoại công khai nào với đại diện các Hiệp hội ngành hàng, dịch vụ xuất nhập khẩu chính (đang có kiến nghị về việc thu phí) kể từ khi quyết định thu phí được áp dụng, trong khi Hải Phòng đã thu trong 6 tháng đầu năm 2017 tổng số tiền ước tính bằng con số nghìn tỷ".
"Điều này khiến các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp lo ngại về chấp hành chỉ đạo nêu trên của Chính phủ cũng như lo lắng về thời gian doanh nghiệp phải tiếp tục gánh chịu mức phí cao, làm ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh và các cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp", liên các hiệp hội cho biết.
Ngày 13/12/2016, HĐND TP Hải Phòng ban hành Nghị quyết số 148/2016/NQ-HĐND về việc quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí sử dụng công trình, kết cấu, hạ tầng, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng trong khu vực cửa khẩu cảng biển Hải Phòng (gọi tắt là phí cảng biển). Theo đó, ngoài mức phí đối với hàng tạm nhập tái xuất, hàng chuyển khẩu, hàng gửi kho ngoại quan vẫn thu như mức Bộ Tài chính quy định. Đối với hàng xuất, nhập khẩu được quy định 250.000đ đối với container loại 20 feet, 500.000đ với container loại 40 feet; hàng rời 20.000 đ/tấn. Thời gian thu phí bắt đầu từ ngày 1/1/2017.
Theo phản ánh của Hiệp hội Bông sợi Việt Nam và nhiều doanh nghiệp hội viên của VCCI, với chính sách tăng phí và bổ sung phí mới tại Nghị quyết 148 của Hải Phòng, một số doanh nghiệp sợi dệt trung bình và lớn tại khu vực Thái Bình và Hà Nam có lượng xuất khẩu 150-400 container (40ft)/tháng thì mỗi doanh nghiệp sẽ phải chi thêm từ 900 triệu đồng đến 2,4 tỷ đồng/năm.
VCCI cho rằng, đây trở thành gánh nặng mới về phí cho các doanh nghiệp, trong bối cảnh các doanh nghiệp đang phải chịu rất nhiều các loại phí khác (phí cầu đường, các loại phí phát sinh khi sử dụng cầu cảng, kho bãi, các công trình dịch vụ ở khu vực cảng biển,…) và nhiều loại cũng đang tăng nhanh (như phí BOT). Điều này sẽ tác động trực tiếp đến chi phí, lợi nhuận của các doanh nghiệp và làm suy giảm sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam.
Bằng việc đặt ra thêm loại phí mới và tăng khoản phí cũ, Nghị quyết 148 của Hải Phòng bị cho là đã đi ngược lại tinh thần lại Nghị quyết 35 của Chính phủ về việc rà soát để giảm các chi phí kinh doanh, một trong năm nhóm giải pháp quan trọng của Nghị quyết 35.
VCCI lo ngại việc ban hành Nghị quyết 148 tại Hải Phòng sẽ tạo ra tiền lệ để các địa phương có cảng biển và cảng sân bay đặt ra các loại phí trong thời gian tới, tạo ra những bất lợi cho hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.
Theo VNF


LIEN ANH CORP

DỊCH VỤ KHAI HẢI QUAN

VẬN CHUYỂN HÀNG KHÔNG

VẬN CHUYỂN HÀNG KHÔNG

ỦY THÁC XNK

TƯ VẤN THỦ TỤC XNK

CHĂM SÓC KHÁCH HÀNG

BÁO GIÁ

TUYỂN DỤNG

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

HOTLINE / ZALO
0932 706 990

TƯ VẤN
0903 687 383

Email
info@lienanhcorp.com

DỊCH VỤ VĂN PHÒNG

DỊCH VỤ VĂN PHÒNG

THUÊ XE DU LỊCH

XEM NHIỀU